Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 254/2026/NĐ-CP và Thông tư số 91/2026/TT-BTC quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử. Nghị định số 254/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và thay thế Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020, Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025. Cùng với đó, Thông tư số 91/2026/TT-BTC thay thế Thông tư số 32/2025/TT-BTC ngày 31/5/2025.
Hai văn bản mới có nhiều nội dung đáng chú ý liên quan trực tiếp đến việc lập, sử dụng và xử lý hóa đơn điện tử của doanh nghiệp. Trong đó, một số nội dung đáng chú ý gồm:
* Làm rõ thời điểm lập hóa đơn đối với dịch vụ và các trường hợp đặc thù
Một trong những nội dung doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là quy định về thời điểm lập hóa đơn. Theo Nghị định số 254/2026/NĐ-CP, thời điểm lập hóa đơn được xác định theo từng loại hoạt động và gắn với thời điểm thực tế phát sinh giao dịch.
Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa.
Trường hợp người bán thu tiền trước hoặc trong thời gian cung cấp dịch vụ thì phải lập hóa đơn tại thời điểm thu tiền, trừ trường hợp thu tiền đặt cọc theo quy định của Bộ luật Dân sự nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ.
Đối với một số dịch vụ phát sinh thường xuyên, liên tục và cần thời gian đối soát dữ liệu như điện, nước, viễn thông, vận tải, ngân hàng, suất ăn công nghiệp..., thời điểm lập hóa đơn được xác định sau khi hoàn thành việc đối soát dữ liệu nhưng chậm nhất không quá ngày 07 của tháng sau hoặc trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ đối soát, tùy từng trường hợp.
Đối với hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, trường hợp hóa đơn đã lập có sai sót thì người bán thực hiện lập hóa đơn thay thế, không thực hiện lập hóa đơn điều chỉnh.
Quy định mới giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định rõ thời điểm lập hóa đơn đối với từng loại dịch vụ, đặc biệt là các trường hợp thu tiền trước hoặc cần đối soát định kỳ, đồng thời thống nhất cách xử lý đối với hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có sai sót.
* Thay đổi cách xử lý hóa đơn điện tử có sai sót
Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định về xử lý hóa đơn điện tử đã lập có sai sót. Quy định mới phân loại cụ thể từng trường hợp để doanh nghiệp xác định phương thức xử lý phù hợp.
Trường hợp hóa đơn có sai sót về tên, địa chỉ của người mua hoặc các nội dung không ảnh hưởng đến mã số thuế, số tiền, thuế suất, tiền thuế và hàng hóa thì người bán thực hiện thông báo cho người mua về việc hóa đơn có sai sót và thông báo với cơ quan thuế theo quy định, không phải lập lại hóa đơn.
Đối với các trường hợp hóa đơn có sai sót ảnh hưởng đến những nội dung cần xử lý như mã số thuế, số tiền, thuế suất, tiền thuế, tên hàng hóa hoặc các nội dung khác theo quy định, người bán thực hiện lập hóa đơn điều chỉnh hoặc hóa đơn thay thế tùy từng trường hợp.
Đối với hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, trường hợp có sai sót thì người bán thực hiện lập hóa đơn thay thế theo quy định.
* Cho phép lập một hóa đơn điều chỉnh cho nhiều hóa đơn có cùng sai sót
Một điểm mới đáng chú ý là trường hợp trong cùng một tháng, người bán đã lập sai cùng thông tin về người mua, tên hàng, đơn giá, số lượng, thuế suất trên nhiều hóa đơn của cùng một người mua trong cùng tháng, người bán được lập một hóa đơn điều chỉnh cho nhiều hóa đơn điện tử đã lập sai.
Hóa đơn điều chỉnh phải kèm theo bảng kê các hóa đơn điện tử đã lập sai theo Mẫu số 01/BK-ĐCTT Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 91/2026/TT-BTC.
Quy định này giúp doanh nghiệp giảm số lượng hóa đơn phải lập khi xử lý các sai sót có cùng nội dung, đặc biệt đối với trường hợp phát sinh nhiều hóa đơn sai trong cùng tháng cho cùng một khách hàng, qua đó đơn giản hóa việc xử lý và quản lý hóa đơn sai sót.
* Bổ sung quy định xử lý hóa đơn khi giá trị, khối lượng thay đổi sau thanh toán hoặc quyết toán
Nghị định số 254/2026/NĐ-CP cũng bổ sung quy định đối với trường hợp hóa đơn điện tử đã lập khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không bị sai nhưng sau khi thanh toán thực tế hoặc khi quyết toán có sự thay đổi về giá trị, khối lượng trên cơ sở kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Theo đó, người bán thực hiện lập hóa đơn điện tử mới đối với số chênh lệch phát sinh sau quyết toán, phản ánh đúng nghiệp vụ kinh tế thực tế. Trường hợp phát sinh giảm thì số tiền chênh lệch được thể hiện bằng số âm; trường hợp phát sinh tăng thì thể hiện bằng số dương.
Quy định này áp dụng đối với các trường hợp như điều chỉnh giá trị quyết toán dự án đầu tư khi có sự thay đổi về đơn giá, khối lượng; điều chỉnh giá bán theo quy định của pháp luật chuyên ngành; hoặc điều chỉnh giá trị, khối lượng trên cơ sở kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quy định mới tạo cơ sở rõ ràng cho việc xử lý phần chênh lệch phát sinh sau thanh toán hoặc quyết toán, đặc biệt đối với các hợp đồng, dự án có giá trị hoặc khối lượng được xác định chính thức sau quá trình thực hiện và quyết toán.
* Bổ sung các trường hợp không phải lập hóa đơn
Nghị định số 254/2026/NĐ-CP bổ sung và làm rõ một số trường hợp không phải lập hóa đơn điện tử, qua đó giảm bớt các thủ tục không cần thiết trong quá trình thực hiện.
Một số trường hợp đáng chú ý gồm điều chuyển tài sản nội bộ, một số khoản thu không liên quan đến hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, một số khoản thu trong hoạt động tài chính, bảo hiểm, tái bảo hiểm, thu mua nông sản theo bảng kê và các trường hợp khác theo quy định.
Việc quy định cụ thể các trường hợp không phải lập hóa đơn giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định đúng nghĩa vụ lập hóa đơn đối với từng giao dịch, hạn chế việc lập hóa đơn không cần thiết.
* Tăng cường xác thực thông tin khi đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử
Nghị định số 254/2026/NĐ-CP và Thông tư số 91/2026/TT-BTC bổ sung, làm rõ một số nội dung liên quan đến việc đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Theo đó, thông tin của người nộp thuế và người đại diện theo pháp luật được thực hiện đối chiếu, xác thực với các cơ sở dữ liệu có liên quan theo quy định. Việc xác thực thông tin nhằm nâng cao tính chính xác của thông tin đăng ký, đồng thời tăng cường kiểm soát đối với các trường hợp có dấu hiệu rủi ro.
Đối với trường hợp người mua là cá nhân không lấy hóa đơn và không cung cấp thông tin về tên, địa chỉ, mã số thuế, trên hóa đơn thực hiện thể hiện dòng chữ “Bán cho người tiêu dùng” theo quy định.
Bên cạnh đó, đối với một số giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phát sinh vào ban đêm thuộc trường hợp quy định, người bán được lập hóa đơn chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo.
Thông tư số 91/2026/TT-BTC cũng quy định bổ sung ký hiệu trên một số loại hóa đơn, trong đó có ký hiệu “F” trên hóa đơn giá trị gia tăng kiêm tờ khai hoàn thuế đối với hàng hóa của khách nước ngoài mang theo khi xuất cảnh theo quy định.
Các quy định mới góp phần chuẩn hóa thông tin trên hóa đơn, nâng cao tính chính xác của dữ liệu và tạo thuận lợi cho việc quản lý, đối chiếu hóa đơn điện tử.
* Một số thay đổi khác về hóa đơn điện tử
Bên cạnh các nội dung trên, Nghị định số 254/2026/NĐ-CP và Thông tư số 91/2026/TT-BTC cũng có một số điều chỉnh liên quan đến việc lập, sử dụng, quản lý và truyền nhận dữ liệu hóa đơn điện tử.
Các quy định này góp phần chuẩn hóa dữ liệu hóa đơn điện tử, tạo sự thống nhất trong quá trình trao đổi thông tin giữa người nộp thuế, tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử và cơ quan thuế, đồng thời hỗ trợ công tác quản lý, kiểm tra và đối chiếu dữ liệu.
Những quy định mới tại Nghị định số 254/2026/NĐ-CP và Thông tư số 91/2026/TT-BTC tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý hóa đơn điện tử theo hướng tăng cường kết nối dữ liệu, chuẩn hóa thông tin và phù hợp hơn với thực tiễn.
Qua đó, các quy định mới góp phần tạo sự thống nhất trong quá trình lập, sử dụng và quản lý hóa đơn điện tử, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng được đẩy mạnh./.
Tác giả: Nguyễn Thị Dịu (Phòng TCKT)