Việc đẩy mạnh cùng lúc thị trường carbon, tín dụng xanh, trái phiếu xanh sẽ tạo động lực lớn về tài chính xanh cho các mục tiêu giảm phát thải của Việt Nam.
Dư địa tín dụng lớn
Theo ước tính từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), để hiện thực hóa cam kết Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD từ nay đến năm 2040, tương đương mức trung bình khoảng 20 tỷ USD mỗi năm. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được một phần nhỏ, tín dụng xanh và trái phiếu xanh được xác định là “chiếc phễu” quan trọng nhất để thu hút dòng vốn từ các nhà đầu tư phát triển bền vững quốc tế.
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ ra, tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống ngân hàng đạt khoảng 750 nghìn tỉ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến nay đạt trên 21%/năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Nhóm Big 4 ngân hàng thương mại lớn nhất (BIDV, Vietcombank, Agribank, VietinBank) cùng các ngân hàng thương mại cổ phần năng động như MB, HDBank, VPBank đang dẫn đầu về cung ứng tín dụng xanh.
.jpg)
Nhiều dự án năng lượng tái tạo đang sử dụng nguồn vốn tín dụng xanh. Ảnh: Nguyễn Phương.
Để lựa chọn các dự án xanh, theo bà Đặng Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Điều hành Công ty CP Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEP), các ngân hàng thương mại đã bắt đầu tích hợp danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ, cùng các tiêu chí đánh giá rủi ro môi trường và xã hội (ESG) vào quy trình thẩm định theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước. Mô hình phổ biến hiện nay là các ngân hàng chủ động huy động vốn với lãi suất thông thường, sau đó điều tiết để cung cấp các gói vay ưu đãi cho doanh nghiệp. Dòng vốn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng tái tạo (chiếm 39%) và hạ tầng xanh (chiếm 26%).
“So với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan (8-10%) hay Malaysia (trên 15%), quy mô tín dụng xanh của Việt Nam là 5% cho thấy dư địa phát triển cho mảng tín dụng xanh tại Việt Nam vẫn còn rất lớn”, bà Hạnh nhìn nhận.
Tương tự, tổng dư nợ trái phiếu xanh, xã hội và bền vững (GSS) đến cuối 2025 đạt khoảng 25.400 tỷ đồng, chỉ chiếm 2% tổng dư nợ trái phiếu doanh nghiệp. Tuy nhiên, thị trường đang cho thấy đà tăng trưởng mạnh mẽ và sự cải thiện vượt bậc về chất lượng.
Địa phương, doanh nghiệp tham gia phát hành trái phiếu xanh
Khác với giai đoạn trước, các đợt phát hành gần đây đã bắt đầu tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA), có sự đánh giá độc lập để thu hút các nhà đầu tư tổ chức lớn. Kỳ hạn trái phiếu hiện đạt mức bình quân trên 8 năm với lãi suất dao động từ 5 - 6%, tạo ra sự phù hợp tối ưu cho các dự án xanh dài hạn.
Theo bà Đặng Thị Hồng Hạnh, bức tranh phát hành trái phiếu xanh tại Việt Nam đang dần thay đổi với sự tham gia đa dạng của nhiều thành phần kinh tế. Hà Nội và TP.HCM đã tiên phong phát hành trái phiếu quy mô lớn cho các dự án metro và hệ thống xử lý nước thải tập trung trọng điểm. Khối doanh nghiệp không còn chỉ tập trung vào các tập đoàn lớn như Vingroup hay BIM Land, thị trường đã đón nhận các tân binh từ ngành dệt may, năng lượng tái tạo hay ngành nước sạch (như Nước sạch Hòa Bình Xuân Mai, EVN Finance...).
Với các ngân hàng thương mại, nhiều ngân hàng lớn đã có khung trái phiếu xanh chuẩn quốc tế và phát hành thành công nhiều đợt ở thị trường trong nước và quốc tế. Trong đó, Vietcombank phát hành 2.000 tỷ trái phiếu xanh vào tháng 11/2024 và tiếp tục phát hành 2.000 tỷ trái phiếu bền vững trong tháng 1/2026. Agribank và BIDV đã có các đợt phát hành quy mô từ 3.000 - 5.000 tỷ đồng.
Để tăng thêm nguồn vốn xanh, các ngân hàng nội địa cũng đang đang tích cực hợp tác với các định chế tài chính phát triển quốc tế (như ADB, IFC, AFD, JBIC, WB) để tiếp cận nguồn vốn xanh dài hạn, lãi suất thấp. Trong đó, BIDV đã tiếp nhận gói tín dụng xanh 100 triệu USD từ AFD; HDBank ký kết khoản vay 70 triệu USD từ IFC hay VPBank huy động 150 triệu USD từ JBIC để chuyên tài trợ cho các dự án năng lượng sạch và giảm phát thải...
Bước sang năm 2026, thị trường kỳ vọng sẽ có sự đột phá thông qua việc thí điểm phát hành Trái phiếu Chính phủ xanh theo hướng dẫn của Thông tư 08/2026/TT-BTC. Tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam hướng tới xây dựng một hệ sinh thái tài chính xanh toàn diện, bao phủ tất cả các lĩnh vực trọng yếu từ năng lượng, giao thông đến xây dựng và nông nghiệp.
Sự cộng hưởng từ thị trường carbon
HIện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Tài chính hiện đang thực hiện các bước cuối cùng để chuẩn bị vận hành sàn giao dịch carbon trong nước. Thời điểm sàn giao dịch khai trương cũng chính là bước tiến trong việc hình thành thành thị trường carbon của Việt Nam, tạo ra một luồng tài chính mới từ việc giao dịch kết quả giảm phát thải khí nhà kính.
Theo ông Kobayashi Kunihiro, Trung tâm Hợp tác môi trường hải ngoại Nhật Bản (OECC), doanh nghiệp phải cắt giảm phát thải theo mục tiêu chung của quốc gia và điều này đòi hỏi phải có nguồn đầu tư thích đáng. Các sản phẩm tài chính xanh như trái phiếu xanh, tín dụng xanh, và các gói vay liên kết bền vững được thiết lập hướng tới khách hàng có nhu cầu này. Mối quan hệ được thể hiện rõ nhất qua Mục tiêu hiệu suất bền vững (SPT). Nghiên cứu của OECC tại khu vực ASEAN đã ghi nhận việc phát hành trái phiếu và gói vay liên kết bền vững sử dụng kết quả giảm phát thải khí nhà kính thực tế làm chỉ số đo lường hiệu suất.
.jpg)
Doanh nghiệp, tổ chức tham gia thị trường carbon có thể sử dụng kết quả giảm phát thải thực tế để tiếp cận tài chính xanh. Ảnh: Trung Nguyên.
Thay vì chỉ hứa hẹn, doanh nghiệp phải chứng minh được lượng khí thải cắt giảm được để làm căn cứ đánh giá hiệu quả đầu tư và hưởng các ưu đãi về lãi suất. Điều này sẽ giúp minh bạch hóa dòng tiền, tránh tình trạng "tẩy xanh" (quảng cáo xanh giả tạo) và đồng thời tạo ra sự kết nối chặt chẽ: tài chính xanh cung cấp vốn để doanh nghiệp giảm phát thải, và kết quả giảm phát thải lại là "chìa khóa" để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn.
Với doanh nghiệp, tổ chức tham gia thị trường carbon, việc tuân thủ hạn ngạch phát thải khí nhà kính hay đầu tư dự án tạo tín chỉ carbon đủ tiêu chuẩn tham gia thị trường đều có lợi. Việc sử dụng các kết quả giảm phát thải thực tế làm mục tiêu hiệu suất bền vững (SPT) giúp doanh nghiệp dễ dàng giải trình tính hiệu quả của nguồn vốn với cơ quan quản lý và các ngân hàng phát triển, từ đó mở rộng cơ hội thụ hưởng các chính sách hỗ trợ lãi suất từ Chính phủ. Như vậy, việc tuân thủ các quy định về phát thải không còn là gánh nặng chi phí, mà đã trở thành chìa khóa giúp doanh nghiệp củng cố năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu thời kỳ Net Zero./.
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
Tác giả: Khánh Ly - Diệu Linh (NN&MT)